Cập nhật lúc: 28/10/2012 - 15:40 - Lượt xem thứ: 3506

Lễ hội truyền thống Côn Sơn Kiếp Bạc

Nhiều thế kỷ qua, khách đến chùa Côn Sơn không chỉ lễ Phật, mà còn là dịp du ngoại, thăm danh thắng nơi có những di tích gắn liền với nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa của đất nước và thế giới như: Đức Thánh Trần, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Phạm Ngũ Lão... Bởi thế, trong số các di tích xếp hạng quốc gia thì khu di tích lịch sử văn hóa Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải Dương) được coi là trung tâm văn hóa lớn, hội tụ và kết tinh nhiều giá trị lịch sử nhất.
Ngoài các giá trị to lớn về lịch sử - văn hoá, khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc còn là miền đất có cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, hấp dẫn làm say đắm lòng người. Kiếp Bạc có dãy núi Trán Rồng hùng vĩ bao quát cả một miền sông nước Lục Đầu giang, trên bến có làng xóm trù phú, dưới sông thuyền bè tấp nập ngược xuôi, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình. Côn Sơn có núi Kỳ Lân thơ mộng, trên núi thông reo, chim hót, hoa lá tốt tươi; dưới núi có suối Côn Sơn nước chảy rì rầm; mai, trúc mọc xanh biếc. Trong mầu xanh đại ngàn thấp thoáng dáng vóc những công trình kiến trúc cổ kính, trầm tư. Tất cả như hoà quyện vẽ nên phong cảnh lung linh huyền diệu. Vì thế, trẩy hội truyền thống Côn Sơn - Kiếp Bạc còn là một dịp đi du lịch tham quan danh lam thắng cảnh bổ ích và lý thú.
Năm nay, Lễ hội mùa thu, Côn Sơn – Kiếp Bạc diễn ra từ ngày 30/9 đến 5/10 sẽ long trọng hơn, tưng bừng hơn, bởi tỉnh Hải Dương tổ chức đón nhận vinh dự của Chính phủ công nhận khu quần thể di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc là một trong 23 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của cả nước. Đây là sự kiện quan trọng thể hiện sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước với công lao to lớn của các anh hùng dân tộc trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước đồng thời cũng ghi nhận sự cố gắng của Đảng bộ nhân dân tỉnh Hải Dương trong việc bảo vệ, khai thác phát huy các giá trị truyền thống lịch sử quê hương.
Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc đã trở thành nét đẹp văn hóa không thể thiếu được trong đời sống tâm linh của cộng đồng dân tộc và ước nguyện của nhân dân mọi miền đất nước hướng về cội nguồn.
 1. Di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc gắn với lịch sử hào hùng của dân tộc.
Kiếp Bạc là một địa danh lừng lẫy bên Lục Đầu Giang, cách Côn Sơn chừng 5 cây số. Kiếp Bạc có thế "rồng vươn, hổ phục", có "tứ đức, tứ linh". Thế sông núi hiểm mà hài hoà, hùng vĩ khoáng đạt mà trang nhã. Tại đây, hội nước 4 dòng sông từ thượng nguồn dồn về, chảy vào sông Thái Bình và sông Kinh Thầy, mang phù sa màu mỡ tốt tươi về xuôi bồi đắp. Bốn dòng sông ấy, ngoài các tên quen thuộc, đều có thêm một tên Hán tự có chữ "đức" đứng sau: sông Đuống (Thiên Đức), sông Cầu tức sông Như Nguyệt (Nguyệt Đức), sông Thương (Minh Đức), Sông Lục Nam (Nhật Đức); dòng chính về xuôi thì có tên là sông Thái Bình. Vì người xưa coi Lục Đầu Giang là nơi hợp lưu của 4 dòng đức lớn trong vũ trụ, mang thái bình tức là mang yên ổn thịnh vượng về cho trăm họ, muôn dân. Kiếp Bạc có đường thuỷ, đường bộ rất thuận tiện. Từ Kiếp Bạc có thể thuận tới Thăng Long, lên ngược, về xuôi, ra biển đều dễ dàng, nên đây là vị trí chiến lược, "quyết chiến điểm" mà cả quân dân Đại Việt cũng như quân xâm lược phương Bắc đều cần chiếm giữ trong các cuộc chiến tranh.
Vào thời nhà Trần ở thế kỷ XIII, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn - vị anh hùng dân tộc, nhà quân sự kiệt xuất, vị tổng chỉ huy quân dân Đại Việt  trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông đã chọn Vạn Kiếp để đặt đại bản doanh , xây dựng phủ đệ. Với tài thao lược của Quốc Công Tiết Chế, Kiếp Bạc - Lục Đầu Giang đã phát huy sức mạnh tổng lực của thế trận chiến tranh nhân dân. Dưới sự chỉ huy của Nhân Vũ Hưng Đạo Đại vương, quân và dân Đại Việt đã "trên dưới một lòng, cả nước giúp sức" lập nên những chiến công vang dội: Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp và cuối cùng là trận Bạch Đằng lừng lẫy, đánh bại hoàn toàn đế quốc Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, để non song toàn vẹn, dân tộc khải hoàn ca khúc thái bình. Từ sau cuộc đại thắng giặc Nguyên lần thứ ba, Trần Hưng Đạo đã về ở hẳn tại tư dinh Vạn Kiếp cho tới cuối đời. Tại đây, trước nguy cơ quân Nguyên xâm lược lần thứ hai, Đại Vương đã viết "Binh gia diệu lý yếu lược" để dạy tướng sỹ, và viết "Hịch tướng sỹ" để xác định trách nhiệm, nâng cao ý thức cảnh giác, tích cực học tập binh thư, luyện tập võ nghệ, sẵn sàng diệt giặc cho họ; sau khi về nghỉ, Ngài lại viết "Vạn Kiếp tông bí truyền thư", đúc kết những kinh nghiệm, những bí quyết đánh giặc giữ nước của một đời cầm quân truyền lại cho hậu thế. Trước khi mất, được vua Trần Anh Tông về thăm bệnh và hỏi kế sách giữ nước, Đại Vương đã căn dặn: "Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách để giữ nước".
Bởi Đại Vương là danh tướng bậc nhất "tài mưu lược, anh hùng, một lòng giữ gìn trung nghĩa … lập nên công nghiệp hiếm có. Tiếng vang đến giặc Bắc, chúng thường gọi là An Nam Hưng Đạo Vương mà không dám gọi tên"*7 . Ngài đã được triều đình nhà Trần cho lập đền thờ ngay khi còn sống, gọi là Sinh Từ. Ngày 20 tháng Tám năm Canh Tý (1300), Đại Vương mất tại Kiếp Bạc. Thượng hoàng Trần Thánh Tông tự soạn văn bia ngợi ca công đức Đại Vương, ví ông với Thượng Phụ (tức Lã Vọng  ngày xưa được Chu Vũ Vương tôn làm thầy); nhân dân Đại Việt tôn là Đức Thánh Trần, xây đền Kiếp Bạc để tưởng nhớ công lao to lớn đối với non sông, đất nước. Ngày giỗ Đại Vương hàng năm trở thành ngày chính hội Đền Kiếp Bạc. Hội Đền kéo dài hàng tuần, thu hút hàng chục vạn con dân Đại Việt từ khắp mọi miền đất nước về kính bái, nguyện cầu. Đó là một trong số lễ hội lớn nhất của cả nước được gìn giữ hơn 7 thế kỷ nay, trở thành mỹ tục truyền thống, thể hiện sâu sắc đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc.
Theo tư liệu lưu tại khu di tích, thì khi Nguyễn Bặc, Đinh Điền dẹp loạn 12 sứ quân, đến Côn Sơn đã thấy có chùa, nghĩa là chùa muộn nhất đã được xây dựng từ thời Đinh, tức từ giữa thế kỷ X. Điều đó nếu là sự thật thì cũng không có gì lạ, vì Phật giáo vào nước ta từ đầu Công nguyên; Ở Hải Dương, chùa Động Ngọ (Thanh Hà) được xây dựng từ năm Thái Bình thứ 2 (971). Nhà sư Kiều Bản Tịnh, thường gọi là Bản Tịnh (1100-1176), năm Đại Định thứ 2(1141), sư đến trụ trì một ngôi chùa trên núi Kiệt Đặc (Chí Linh), đây có thể là chùa Huyền Thiên, nay còn di tích. Nhưng chùa Côn Sơn thời Đinh tên là gì, ai trụ trì, quy mô và lễ hội ra sao thì đến nay, chưa tìm được tài liệu khả dĩ để nghiên cứu.
Theo Thanh Mai Viên Thông tháp bi, thì khi Đồng Kiên Cương khi mới xuất gia, năm Giáp Thìn, Hưng Long 12 (1304), sư tu ở liêu Kỳ Lân. Liêu ở đây là cái am nhỏ, cũng có nghĩa chùa Côn Sơn lúc đó chỉ là một cái am nhỏ. Năm Ất Tỵ, Hưng Long 13 (1305), tại liêu Kỳ Lân, Đồng Kiên Cương được Điều Ngự Đầu Đà Trần Nhân Tông ban pháp hiệu là Pháp Loa. Từ năm Hưng Long 12 đến năm Khai Hựu thứ nhất(1304-1329), văn bia chỉ nói đến liêu Kỳ Lân mà không một lần nhắc tới chùa Côn Sơn. Tháng 7 năm Kỷ Tỵ, Khai Hựu thứ nhất, Pháp Loa mở rộng sơn cảnh Côn Sơn và Thanh Mai, có lẽ từ đây danh xưng Côn Sơn Thiên tư phúc tự mới ra đời, nhiều văn bản thời sau thường gọi tắt là Côn Sơn tự. Nhưng hội chùa thời kỳ này ở Côn Sơn thế nào, cũng chưa tìm được tư liệu, kể cả văn bia tại di tích.
 2. Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc qua các thời kỳ.
Trên đất nước ta, phần lớn lễ hội bắt nguồn từ ngày kỷ niệm những nhân vật lịch sử hay huyền thoại. Đó có thể là ngày sinh, ngày qua đời, hoặc là ngày khánh hạ. Thông lệ người ta hay chọn một trong những ngày nói trên thuộc vào thời kỳ nông nhàn, nhất là mùa xuân hoặc cuối thu. Vậy lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc bắt nguồn từ khi nào và tổ chức ra sao? hãy cùng Cinet tìm hiểu Lễ hội qua các thời kỳ.
Vào thời Trần
Thời Trần (1225-1400), Phật giáo còn rất thịnh hành, tuy đã bị một số nho sĩ phê phán trên một số phương diện. Trần Nhân Tông, ông vua từng lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, lập chiến công lừng lẫy, đã dành những năm tháng cuối đời nghiên cứu đạo Phật. Với tinh thần độc lập, tự chủ, muốn có một tôn giáo mang mầu sắc dân tộc, ông đã cùng các đệ tử tiếp thu những ý tưởng của ông cha, sáng lập một thiền phái mang tên Trúc Lâm, tiếp đó được Pháp Loa, Huyền Quang thừa kế. Ba vị cao tăng được suy tôn là Trúc Lâm tam tổ. Ngày mất của các vị trở thành ngày giỗ tổ của những tín đồ theo tôn giáo này. Ngày giỗ ấy dần dần trở thành ngày hội ở những nơi mà sinh thời các vị để lại những dấu ấn sâu sắc và nơi ấy được gọi là chốn Phật tổ.
Huyền Quang tên thật là Lý Đạo Tái, thuộc dòng dõi quan lại nhà Lý, sinh năm Nguyên Phong thứ tư (1254), quê tại hương Vạn Tải, huyện Gia Định, nay thuộc thôn Vạn Tư xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Ông là người thông minh, hiếu học, năm 20 tuổi đỗ Hương cử, năm 21 tuổi đỗ đầu khoa Đại tỷ thủ sĩ, niên hiệu Bảo Phù thứ hai (1274), tức Trạng nguyên. Vua Trần thấy ông là người tài năng đức độ, đỗ đạt cao, muốn gả công chúa Liễu cho ông, nhưng ông không nhận. Ông làm việc ở Viện Hàn lâm, thường xuyên giao thiệp với sứ thần, văn thư đi lại, viện dẫn kinh điển, ứng đối lưu loát, văn chương ngôn ngữ hay hơn cả Thượng quốc và những nước láng giềng. Khác với những nho sĩ đương thời, cuối đời, Lý Đạo Tái tìm đến tôn giáo. Ngày nay có thể biết một phần cuộc đời và sự nghiệp của ông qua văn bia Tháp Viên thông, Lý Trạng nguyên hành trạng và một số thư tịch khác.
Một hôm, Lý Đạo Tái theo vua Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm, huyện Phượng Nhỡn, nghe Pháp Loa giảng kinh, ông thấy có nhiều điểm tâm đắc, liền xin triều đình cho xuất gia tu hành. Vua Anh Tông chần chừ mới y cho. Ông xuất gia, kiên trì học đạo ở chùa Lễ Vĩnh từ năm Hưng Long 13 (1305), dưới sự chỉ dẫn của Bão Phác, một đệ tử xuất sắc của Pháp Loa, khi đó đã 52 tuổi. Năm Hưng Long 14 (1306), Nhân Tông lập đạo tràng ở chùa Vĩnh Nghiêm, cho Pháp Loa làm giảng chủ, Lý Đạo Tái theo Bão Phác đến thụ giáo, được Nhân Tông cho làm thị giả. Ông cùng Điều ngự Đầu đà Trần Nhân Tông và Pháp Loa du ngoạn khắp danh lam cổ tích của đất nước. Sau khi Nhân Tông qua đời, ông theo Pháp Loa học đạo không rời, được Pháp Loa đặt pháp hiệu là Huyền Quang. Là học trò, nhưng ông hơn Pháp Loa đến 30 tuổi. Ông có biệt tài biên soạn kinh sách:"Các sách nói về đạo Phật do chính tay Huyền Quang viết ra thì không nên thêm bớt một chữ nào". Sau 8 năm xuất gia, Huyền Quang được chủ trì chùa Vân Yên, một trong những trung tâm tôn giáo lớn nhất đất nước đương thời, trên núi Yên Tử.
Huyền Quang từng ở chùa Thanh Mai 6 năm, rồi về trụ trì chùa Côn Sơn, lập đài Cửu phẩm liên hoa, biên tập kinh sách truyền lại cho đời sau. Ông là một trí thức uyên bác, một nhà sư giàu lòng vị tha, trước tác nhiều kinh sách, như: Ngọc tiên tập, Chư phẩm kinh, Công văn tập, Phổ Tuệ ngữ lục... Thơ văn của ông trang nhã, sâu sắc, nay còn 24 bài trong Toàn Việt thi lục.
Ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334), sư viên tịch tại chùa Côn Sơn. Vua Trần Minh Tông cho 10 lạng vàng xây tháp ở bên tả phía sau chùa, lấy tên là Đăng Minh bảo tháp, đặc phong tự pháp Huyền Quang tôn giả. Tháp Huyền Quang nay vẫn còn, ở sau chùa Côn Sơn, trên đường lên Bàn Cờ tiên và Thanh Hư động, đúng như thư tịch đã ghi, nhưng không phải ngôi tháp ban đầu, xây dựng sau khi Huyền Quang viên tịch. Đây là ngôi tháp đá ba tầng, dựng năm Vĩnh Thịnh 15 (1719), thay cho ngôi tháp đất nung sụp đổ trước đó.
Như vậy ngày viên tịch của Huyền Quang là ngày giỗ tổ của của chùa Côn Sơn, cũng vì thế mà Côn Sơn trở thành chốn Phật tổ của thiền phái này. Ngày giỗ tổ sau thành ngày hội. Hội mùa xuân Côn Sơn bắt nguồn từ ngày giỗ Trúc Lâm đệ tam tổ, có từ đầu thế kỷ XIV.
Hội Mùa xuân Côn Sơn từ thời Trần đến thời Hậu Lê như thế nào, đến nay chưa tìm được tư liệu mô tả trực tiếp, nhưng qua văn bia đương thời tại di tích, chúng ta có thể hình dung một phần.
Căn cứ bia Côn Sơn Thiên tư phúc tự, khắc dựng năm Hoằng Định thứ 15 (1614), ghi lại một văn bản của thời cuối Trần, cho biết thì ngày từ năm Thiệu Phong 17 (1357), chùa đã là chốn Cổ tích danh lam, nhà vua đã cấp cho chùa hàng vạn tờ điệp, vàng bạc kể hàng nghìn (lạng?). Vậy thì ngày giỗ sư tổ không thể nhỏ.
Vào thời Lê Sơ
Thời Lê Sơ, khi Nguyễn Trãi làm Đề cử chùa Côn Sơn, hẳn lễ hội phải được tổ chức quy củ. Thời phong kiến, chỉ có những chùa lớn, có điền nô và khố vật của nhà nước mới có quan triều làm Đề cử. Thời Mạc, chắc cũng được quan tâm, vì hoàng tộc này là người Chí Linh (Hải Dương). Nhưng đến cuối thế kỷ XVI, Lê - Mạc phân tranh, Côn Sơn không tránh khỏi bị tàn phá, vì vậy đầu thế kỷ XVII, vào niên hiệu Hoằng Định(1600-1619), chùa được tái tạo hầu hết các công trình và mở rộng, qua đó lễ hội mới có cơ may được phục hồi. Thời kỳ này, chùa còn thuộc huyện Phượng Nhãn, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc. Qua 14 văn bia hiện còn tại khu di tích, hầu hết được khắc dựng vào thế kỷ XVII và XVIII. Những bia này cho biết chúa Trịnh nhiều lần ra lệnh dụ về việc tạo lệ chùa Côn Sơn, coi đó như một quốc tự, số người công đức có địa chỉ ở hầu khắp các trấn ở phía Bắc đất nước, như các sãi vãi, các vị quan triều, các hoàng phi, lệnh tộc, ví như ở:
- Xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn; xã Mai Cương, huyện Quế Sơn; xã Phùng Xá, huyện Quế Dương, phủ Từ Sơn (Bắc Ninh).
- Xã Từ Quán, huyện Giáo Thuỷ, phủ Thiên Trường (Nam Định).
- Xã Hồng Lục, huyện Gia Phúc; xã Thanh Khê, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng.
- Xã Đặng Đinh, huyện Thiên Thi; xã Xích Đằng, huyện Kim Động; xã Đức Trạch, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu (Hưng Yên).
- Xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, Phủ Thường Tín (Hà Nội).
- Xã Văn Lâm Thái, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia (Thanh Hoá).
- Bà Thái vương tần Lê Thị Ngọc Châu, Xã An Lạc, huyện Thuỵ Nguyên, phủ Thiệu Thiên (Thanh Hoá).
- Xã Tự Cường, huyện Tam Nông (Vĩnh Phúc).
Xã Xuất Tác, huyện Hậu Lộc (Thanh Hoá).
Từ sãi vãi đến các vị quan triều cúng cho nhà chùa những tài sản lớn, thậm chí có những vãi ở xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn cúng cả một con trâu cái. Người ta đã cung tiến vào chùa ruộng trên 80 mẫu ruộng, tiền hàng nghìn quan, vàng bạc hàng trăm lạng. Dân bản xã làm tạo lệ phải cung ứng hàng nghìn đấu gạo và hàng nghìn công phục vụ, mà trọng tâm là cho lễ hội.
Căn cứ vào hôm nay mà suy ra thời xưa. Người ta đến di tích và công đức cho chùa vào dịp giỗ Sư tổ, tức lễ Hội xuân. Từ địa chỉ người cung tiến trên văn bia, có thể thấy, hội khi đó có quy mô vùng, miền rộng lớn.
Vào thời Nguyễn
Sang đến triều Nguyễn, lễ hội Côn Sơn được Đại Nam nhất thống chí ghi rằng: "Phong tục ở đây, cứ đến đầu mùa xuân, trai gái đến chùa dâng hương hàng tuần mới tan, đó là thắng hội của một phương”. Đây là một khẳng định, Hội chùa Côn Sơn là một lễ hội lớn, diễn ra vào đầu mùa xuân, kéo dài hàng tuần, tức khoảng 10 ngày. Quốc sử chỉ cho biết như vậy, lễ và hội thế nào không ai nói tới. Người xưa vốn kiệm lời, thực tế có thế rất phong phú, nhưng khi ghi chép rất khái lược. Đó là điểm yếu trong lịch sử nước nhà.
Đầu thế kỷ XX, sau một thời gian dài chống Pháp xâm lược, lễ hội lại được khôi phục. Hội cũng kéo dài tới hàng tuần, mỗi ngày cũng có 1-2 nghìn người, hầu hết là thanh niên và những sãi vãi từ nhiều tỉnh đổ về. Vậy lễ và hội thời kỳ này như thế nào.
Chúng ta biết rằng, sau khi Huyền Quang viên tịch, chùa Côn Sơn có nhiều nhà sư kế thế chủ trì. Đầu thế XVII, có Mai Trí Bản, người có công tôn tạo khu di tích. Đầu thế kỷ XVIII, có sư Nguyễn Chân Đạo, tự Tính ấn. Thời Vinh Hựu (1735-1740) cụ Nguyễn Đình Viên, cũng từng làm quan Tư lễ giám, Tổng thái giám, Đồng giám sự, Vược lộc quận công, hiệu Hoà thượng Tổ quan tôn giả; có sư Nguyễn Đăng Trạc, thuộc dòng họ Nguyễn Chi Ngại, trước là quan nội giám, sau tu ở chùa Côn Sơn; 18 tháng giêng thì rước bài vị của Nguyễn Đình Viên và Phúc Nguyên từ đình Chúc Sơn lên chùa Côn Sơn, 21 rước về. Theo các cụ cao tuổi của thôn Chúc Sơn cho biết, đoàn rước, đi đầu có lọng mầu đỏ, cờ vàng, trống khẩu làm hiệu lệnh; tiếp đến bát biểu, long đình, hậu bành, sắc phong. Đoàn rước tiến về sân Nhà tổ, dựng rạp bằng cót. Tại đây người ta làm lễ sư tổ và chư vị có công trụ trì và tôn tạo chùa qua từng thời đại.
Trò vui có hát chèo, tổ tôm điếm, đánh đu, vật, cờ người, bịt mắt bắt dê, đi cầu thùm ở hồ trước chùa. Chùa này trước năm 1972 là hồ tròn, sau cải tạo thành hồ bán nguyệt. Có khách các tỉnh, đi đến bằng đường bộ, nên phải ngủ lại chùa 1-2 ngày. Khách lưu lại qua đêm, tạo cho lễ hội thể hiện các trò vui dân gian, nhất là hát chèo. Số người đến hội mỗi ngày khoảng vài nghìn người. Số ngủ lại cũng khoảng vài trăm.
Từ khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ (1946) đến nay
Từ khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ (1946) đến năm 1961, lễ hội mùa Xuân thu hẹp, hầu như chỉ là việc nội bộ của tăng ny và xã sở tại. Năm 1962, nhân kỷ niệm 520 năm ngày qua đời của Nguyễn Trãi, lễ hội Côn Sơn mới có cơ may phục hồi và phát huy, nhưng khách đến hội cũng chỉ vài nghìn trong suốt một mùa hội.
Trong chiến tranh chống Mỹ, Hội Xuân Côn Sơn lại gián đoạn, đến năm 1968, hội được tái diễn, mỗi ngày chỉ 5-7 trăm người, chủ yếu là dân các xã liền kề. Lễ nghi cũng rất đơn giản, vì đất nước còn chiến tranh và dân còn rất nghèo, đời sống tăng ny cũng thật chật vật. Hội mùa Xuân Côn Sơn thực sự có đông khách hành hương, tổ chức bước đầu có quy củ từ xuân năm Canh Thân (1980), khi Nhà nước chuẩn bị kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi, con đường nhựa vào di tích cũng đã hoàn thành. Nói là đông khách nhưng cũng chỉ vài nghìn người mỗi ngày. Khách ngủ lại di tích vẫn đông, do phương tiện đi lại lúc đó còn hạn chế, nhiều người còn phải đi bộ, hoặc đi bằng xe đạp. Đó lại là điều hay cho lễ hội, tạo nên nét thăng hoa về ban đêm. Tại sân Nhà tổ, có hàng chục chiếu chèo, người biểu diễn cứ diễn, người nào xem cứ xem, còn người cần ngủ cứ ngủ. Có lẽ chỉ Việt Nam mới có thứ sân khấu như thế!
Từ năm 1980, năm lễ hội Xuân Côn Sơn được phép mở hội chính thức từ 16-20 tháng giêng âm lịch hằng năm, từ đó cho đến năm 1987, năm nào ngân sách tỉnh cũng phải bao cấp một phần, vì các nguồn thu không đủ chi cho lễ hội và những chi phí trước hội, như mua sắm và tu sửa nhỏ, bởi cái gì cũng thiếu. Từ năm 1988, tỉnh trực tiếp quản lý di tích và tổ chức lễ hội theo quy chế của nhà nước. Vào thập niên 90 của thế kỷ trước, được phép bán vé vào di tích với giá rất phải chăng và vé xe bến bãi, nhằm giảm bớt sự bao cấp của nhà nước, khi kinh tế đã bước sang cơ chế thị trường.
Từ năm 2000, khi Nhà nước có đầu lớn vào khu di tích, Đền Nguyễn Trãi khánh thành, lễ hội Côn Sơn mùa Thu hay mùa Xuân đã bước sang thời kỳ phồn vinh, mở rộng không gian và nội dung lễ hội. Khách đến ngày càng đông, không chỉ thời gian mở hội mà ngay những ngày đầu tháng giêng và kéo dài suốt năm, nhất là những ngày nghỉ cuối tuần, nghĩa là chuyển dần sang du lịch kết hợp với tâm linh. Vài năm gần đây, những ngày đầu năm có khi đông hơn trọng hội.
Trước hết về phần lễ. Có lẽ trong nửa thế kỷ qua, đến nay mới có lễ Khai hội mùa xuân trọng thể và đúng với nội dung cần có, tuy còn phải hoàn thiện trên nhiều mặt. Lễ hội bắt nguồn từ ngày viên tịch của Sư tổ, nhưng chẳng năm nào có lễ khai hội nói đến sự nghiệp của người. Cho đến Hội xuân năm 2009, nhân kỷ niệm 675 ngày viên tịch của Huyền Quang mới có lễ kỷ niệm tương xứng với vị thế của nhà sư. Tuy nhiên, sau Sư tổ là biết bao thế hệ nhà sư chủ trì bản tự, trong đó có những người rất có công, như Trần Nguyễn Đán, Nguyễn Trãi, Mai Trí Bản, Nguyễn Pháp Đăng... đặc biệt là Nguyễn Đình Viên, Nguyễn Đăng Trạc. Họ không phải người sáng lập nhưng có công thừa kế và phát huy, trong diễn văn nên nhắc đến chư vị đó, dù chỉ một cái tên. Lịch sử diễn biến từ không đến có. Ban đầu chỉ là canh quan thiên nhiên, qua thời gian, con người sáng tạo nên các tiết lệ, miễn là hợp với nhu cầu của cuộc sống và các mối quan hệ xã hội tại di tích. Lệ thắp hương: thông lệ, người đi lễ đền chùa, thường thắp hương trước thân tượng hoặc thần vị của người được thờ để tỏ lòng biết ơn, tôn kính và cầu mong được phù trợ, nhưng gần chục năm qua, khách đến di tích tăng gấp bội, việc thắp hương trong chùa trở nên quá tải, mất an toàn cho di tích và ảnh hưởng đến sức khoẻ. Việc đưa bát hương lớn ra ngoài trời là hợp lý. Nhưng cần tôn trọng tín ngưỡng của nhân dân, không nên dúng hương vào nước khi hương còn đang cháy, vì như vậy là phản tín ngưỡng.
Các loại hình dịch vụ: bất cứ ở đâu, khi có như cầu thì có lực lượng đáp ứng nhu cầu. ở thế kỷ trước, người đi lễ chùa Côn Sơn viếng cảnh chùa, lễ Phật, du ngoạn thắng cảnh là chính, chưa có thói quen mua sắm như hội Kiếp Bạc. Nhu cầu trước hết là hương phục vụ cho việc lễ bái, sau là các văn hoá phẩm tìm hiểu về di tích, về phong tục tập quan, tín ngưỡng, và nhu cầu không thể thiếu là ẩm thực. Trong khoảng mười năm lại đây, tình hình dịch vụ đã có những chuyển biến tích cực.
Vào những năm 70 của thế kỷ trước thì không thể có, nhưng nay dịch vụ viết sớ thật phát triển, hàng chục ông đồ già, đồ trẻ viết sớ bằng quốc ngữ hay chữ Hán trên những tờ in sẵn. Vài năm gần đây còn có phục vụ thư pháp Hán Nôm và đôi khi có cả thư pháp quốc ngữ, đây là nét đẹp văn hoá đang được phục hồi và phát triển. Không những thế, người ta còn bán các chữ in sẵn trên giấy, vải hoặc đúc bằng kim loại, tạc trên gỗ, rồi sơn son thếp vàng các chữ Phúc, Lộc, Thọ,...
Ẩm thực ngày càng phong phú và tiến bộ hơn. Gần di tích có hai khách sạn phụ vụ ăn nghỉ cho khách sang, còn ngay trong di tích cũng có vài chục quán ăn lớn nhỏ, được quy hoạch và trang thiết bị tốt, thoả mãn cho mọi như cầu.
Do phương tiện đi lại được cải thiện, nhu cầu mưa sắm đồ thờ và dụng cụ gia đình và sinh hoạt ở Côn Sơn đang hình thành. Các quầy hàng bán đồ sứ, may mặc... đang phát triển. Như vậy hội chùa đi liền với hội chợ đang hình thành.
Trật tự an ninh căn bản là tốt, cờ bạc, trộm cắp, ăn xin và những tệ nạn khác đã hạn chế đến mức thấp nhất. Đó là một thành công bước đầu của lễ hội.
Hoạt động văn hoá phục vụ lễ hội: trong suốt những ngày lễ hội, ngành văn hoá, thể thao, du lịch đã có nhiều tiết phục vụ như: vật, bóng chuyền, văn nghệ. Các gánh hát quan họ, hát chèo dân gian phục vụ nhiệt tình suốt ngày đêm cho cả mùa hội.
Do đời sống không ngừng được cải thiện, khách đến hội ngày nay hầu như không còn người đi bộ, giản dị nhất là xe đạp, thông lệ là ô tô và xe máy. Trang phục cũng khác xưa, ở ngoài đời có bao nhiêu thứ thời trang thì lễ hội có bấy nhiêu thứ, nhưng có những thứ cần có trong ngày hội truyền thống nhiều hơn là trang phục dân tộc như áo the khăn xếp của đàn ông, áo dài tứ thân của phụ nữ, đặc biệt màu nâu truyền thống tuy còn nhưng rất hiếm. Có thể nói, Hội Côn Sơn đã thoát khỏi chất hội làng, đạt đến chuẩn khu vực và quốc gia.
Năm 2006, 2007 thực hiện đề án nâng cấp lễ hội truyền thống Côn Sơn- Kiếp Bạc giai đoạn 2006- 2010, nhiều nghi lễ, diễn xướng, trò chơi dân gian được phục dựng thành công với nội dung phong phú, chuẩn mực, giàu chất dân gian, thu hút đông đảo các tầng lớp xã hội tham gia như: ngư dân vùng sông nước Trà cổ (Quảng Ninh), Cát bà, Đồ sơn (Hải Phòng), Kênh Giang, Kinh Môn (Hải Dương), Tuyên Quang, Vĩnh Phúc.... tham gia lễ rước thuỷ, hội quân hoành tráng trên sông Lục Đầu, nhân dân hai làng Dược Sơn, Vạn Yên tổ chức làm bánh đặc sản xu xê, trầng gừng, bánh trong, bánh lọc, bánh mật, bánh gio, bánh giò tiến Thánh; các cơ cánh đồng cả nước hân hoan về tham dự diễn xướng hầu Thánh; nhân dân và phật tử thập phương đồng lòng hướng về lễ ban ấn, lễ cầu an, lễ Mông Sơn thí thực uy nghi, lộng lẫy. Ngoài ra, còn có các trò chơi dân gian đặc sắc, thể hiện tinh thần phật pháp và khí phách thượng võ nhà Thánh, biểu dương tài năng, sức mạnh của quân dân nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống  Nguyên Mông, khoe tài đọ sức trước cửa Phật, Thánh cầu bình an, khỏe mạnh, cầu nhân khang, vật thịnh, phong đăng  hòa cốc như đua thuyền, đấu vật, bắt vịt dưới nước, đập niêu, đu tiên v.v.
 3. Các Nghi lễ trong lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc
- Lễ Cáo Yết : Theo truyền thống, vào ngày 10 tháng 8 âm lịch hàng năm, nhân dân làng Vạn Yên và Dược Sơn tổ chức lễ cáo yết xin phép mở cửa đền, khai hội mùa thu Kiếp Bạc. Mở đầu là lễ tế thánh của nhân dân, sau đó là lễ dâng hương.
- Lễ rước nước, lễ mộc dục : Rước nước là nghi lễ quan trọng trong lễ hội Côn Sơn, diễn ra vào ngày 16 tháng giêng hàng năm, với mục đích lấy nước làm lễ mộc dục (tắm tượng), mặt khác biểu dương sức mạnh cộng đồng làng xã, gợi mở sự gắn kết tình cảm cộng đồng; biểu hiện ước muốn cầu mùa, cầu nước, cầu nhân khang vật thịnh, phong đăng hòa cốc…
- Làm cỗ tiến Thánh : Trong lễ hội Kiếp Bạc, làm cỗ tiến Thánh của nhân dân hai làng Dược Sơn, Vạn Yên được đặc biệt coi trọng. Cỗ tiến Thánh dùng làm lễ vật dâng cúng trong các nghi lễ, với ước vọng làm cho các vị thần linh hài lòng, cảm động trước tấm lòng thành kính mà cứu giúp, độ trì, che chở cho con người trong cuộc mưu sinh đầy thử thách và gian nan. Các loại bánh phong phú, đa dạng chứa đựng tình cảm, khát vọng đẹp đẽ, bình dị của người dân Vạn Kiếp như: bánh trong bánh lọc, bánh thanh dao tượng trưng cho sự trong sáng, thành bình; bánh tràng gừng thể hiện sự mặn mà, sâu đậm; bánh su sê trượng cho sự no đủ, viên mãn, bánh ngũ sắc, bánh.
- Lễ Rước Bộ và hội quân trên sông Lục Đầu : Rước bộ và hội quân trên sông Lục Đầu là nghi lễ quan trọng, đặc trưng trong lễ hội truyền thống đền Kiếp Bạc. Đây là cuộc diễu hành, phô trương lực lượng mạnh mẽ, là hình bóng của cuộc ra quân gồm đủ thành phần, làm sống lại chiến công hiển hách của Hưng Đạo Đại Vượng trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông. Với quy định nghiêm nghặt của việc tuyển chọn người, nghi thức trang nghiêm của đám rước, số lượng người đông đảo hùng hậu và các loại khí trượng, cờ hoa màu sắc rực rỡ tạo cho đám rước Thánh một vẻ uy nghi, long trọng.
- Lễ tế truyền thống : Tế đền Kiếp Bạc là nghi lễ đặc biệt quan trọng. Thông qua lễ tế thể hiện lòng tôn kính, nhắc nhớ công lao to lớn của Hưng đạo Đại Vương trong cuộc kháng chiến thần thánh chống giặc Nguyên Mông của dân tộc, qua đó cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân khang vật thịnh.
- Lễ Ban Ân : Ban ấn Đức Thánh Trần là nghi lễ cổ truyền ở đến Kiếp Bạc. Theo lệ xưa, cứ vào trước ngày đại kỵ của Đức Thánh, chính quyền sở tại cùng các cụ thủ từ làm lễ đóng ấn vào một tấm lụa màu vàng rồi làm lễ xin phép Ngài, xong đem ban phát cho khách thập phương.
- Lễ cầu an - Hội hoa đăng : Lễ hoa đăng cầu siêu thoát là nhu cầu tâm linh của người Việt, là một trong những nghi lễ đặc trưng trong lễ hội truyền thống Kiếp Bạc. Siêu là xuất, có nghĩa là xuất thần. Thoát tức là thoát hoán phàm trần. Cầu siêu có nghĩ là cầu cho vong hồn người đã khuất được mát mẻ, siêu thoát phàm trần, thể hiện rõ triết lý âm, dương giao hòa trong tâm thức người Việt.
- Diễn xướng hầu Thánh : Diễn xướng hầu Thánh (lên đồng, hầu đồng) là nghi lễ đặc trưng ở đền Kiếp Bạc nhằm tôn vinh công lao, uy đức của Đức Thánh Trần trong công cuộc đấu tranh, bảo vệ đất nước cũng như sự nghiệp xây dựng, phát triển đạo giáo Việt Nam (Đạo Nội). Hầu Thánh có rất nhiều nghi lễ, lễ tiết, diễn xướng khác nhau, nhưng có thể căn cứ vào mục đích, nội dung của từng canh hầu mà chia làm ba loại cơ bản là: Hầu trình đồng, mở phủ; hầu việc Thánh; hầu mừng.
- Lễ mông sơn thí thực : Theo quan niệm Phật giáo, thế giới cõi âm có vô vàn cô hồn không nơi nương tựa. Lập đàn thí thực để thể hiện uy linh Phật pháp và tinh thần từ bi hỉ xả cứu độ chúng sinh, cứu vớt cô hồn tại chốn Phật đường. Đây là hình thức đại chạy đàn, mang tính phát chẩn quốc gia, diễn ra nơi quốc tự.
- Các trò chơi dân gian : Lễ hội truyền thống Côn Sơn – Kiếp Bạc không chỉ chinh phục du khách bởi các nghi lễ, diễn xướng linh thiêng, độc đáo mà còn hấp dẫn bởi các hoạt động Hội đa dạng, phong phú mang tính đặc thù gắn liền tính chất, sự tích nhân vật được thờ phụng ở đây và những chiến công oanh liệt của quân, dân ta trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược, như: Các trò chơi dân gian, biểu diễn nghệ thuật.
 4. Lễ hội mùa thu, Côn Sơn - Kiếp Bạc 2012
“Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ" là câu ca nhớ về lễ hội tưởng niệm ngày mất của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và ngày lễ hội thờ Mẫu Liễu Hạnh. Hai vị là người cha, người mẹ thiêng liêng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc.
Trong quan niệm dân gian, mùa thu tượng âm, tháng Tám giữa thu là chính âm. Đức Thánh Trần Hưng Đạo là cha tượng dương, lễ hội giỗ cha vào tháng Tám là âm dương hoà hợp. Âm dương hoà hợp thì vạn vật sinh sôi, nẩy nở. Mùa màng cây cối tốt tươi, vạn sự hanh thông. Lễ hội ở thời điểm chính âm được coi là càng linh thiêng hơn, mọi sự kêu cầu đức Thánh ở lễ hội tháng Tám sẽ được linh ứng. Cho nên trong 3 tháng mùa thu (tập trung vào tháng Tám) nhân dân cả nước lần lượt về đền Kiếp Bạc làm lễ rất đông. Lễ hội tháng Tám vì thế cũng được gọi là lễ hội mùa thu đền Kiếp Bạc.
Vào ngày 15/9, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Dương đã tổ chức họp báo chính thức công bố thời gian tổ chức “Lễ hội truyền thống mùa thu, Côn Sơn-Kiếp Bạc năm 2012”.
Theo đó, Lễ hội thống mùa thu, Côn Sơn-Kiếp Bạc năm 2012 sẽ chính thức khai hội vào ngày 30/9 (tức 15/8 âm lịch) và kéo dài đến 5/10/2012 (tức ngày 20/8 âm lịch).
Trong khuôn khổ Lễ hội sẽ tổ chức hàng chục các hoạt động nghi lễ, văn hóa, thể thao để tưởng niệm 712 năm ngày mất của anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn; 570 năm ngày mất của anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi; tôn vinh công lao to lớn của các danh nhân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc đồng thời, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc.
Phần Lễ với nhiều nghi thức tế lễ và diễn xướng dân gian như lễ rước cỗ tiến Thánh, Lễ hội quân trên sông Lục Đầu, lễ hội cầu an và hội hoa đăng trên sông Lục Đầu, tục hầu Thánh, lễ ban ấn của Đức Thánh Trần…
Phần Hội với các trò chơi dân gian như đấu vật, đua thuyền, bắt vịt, nấu cơm thi, nhảy phỗng…
Sự kiện nổi bật trong lễ hội năm nay là việc tổ chức lễ đón nhận vinh dự của Chính phủ công nhận khu quần thể di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc là một trong 23 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của cả nước. Đây là sự kiện quan trọng thể hiện sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước với công lao to lớn của các anh hùng dân tộc trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước đồng thời cũng ghi nhận sự cố gắng của Đảng bộ nhân dân tỉnh Hải Dương trong việc bảo vệ, khai thác phát huy các giá trị truyền thống lịch sử quê hương, sự quan tâm ủng hộ của đông đảo nhân dân cả nước nói chung nhân dân Hải Dương nói riêng quan tâm trùng tu tôn tạo, bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử quý báu của dân tộc tại quần thể di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc trong nhiều năm qua.
Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc dù là mùa Xuân hay mùa Thu vẫn là lễ hội lớn của đất nước. Những vấn đề cần quan tâm tuyên truyền, giáo dục ở đây là tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc của Trúc Lâm tam tổ. Giỗ tổ Huyền Quang nhưng không chỉ riêng Huyền Quang mà phải nhắc đến Trần Nhân Tôn, người lãnh đạo đất nước hoàn thành xuất sắc hai cuộc chiến tranh vệ quốc, người có công xác lập Thiên phái Trúc Lâm Việt Nam. Pháp Loa người có đạo nhãn và tài năng thực tiễn phi thường, kiến tạo cơ sở vật chất và đào tạo tăng ny cho thiền phái. Nêu cao tinh thần nhân văn của Đại tư đồ Trần Nguyên Đán, người kiến tạo nên gia đình Danh nhân văn hoá thế giới. Công lao và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, Người có công lớn về đánh giặc giữ nước và xây dựng nền văn hoá dân tộc, người có tư tưởng đi trước thời đại. Các nhân vật được thờ ở Côn Sơn đều là những nhân vật kiệt xuất của dân tộc, thế hệ đi sau cần quan, tuyên truyền để góp phần giữ gìn, tôn vinh truyền thống tốt đẹp của ông cha.

Các bài viết khác:
Tin mới nhất
Điểm du lịch
Đêm giáng sinh huyền bí ở Sa Pa
Đêm giáng sinh huyền bí ở Sa Pa
Giá: 2,300,000 đ
Loại: Tour 4 Ngày 3 Đêm
Du lịch Cát Bà 3 Ngày
Du lịch Cát Bà 3 Ngày
Giá: (mời liên hệ)
Loại: Tour 3 Ngày 2 Đêm
Du lịch Hạ Long - Cát Bà 2 Ngày
Du lịch Hạ Long - Cát Bà 2 Ngày
Giá: (mời liên hệ)
Loại: Tour 2 Ngày 3 Đêm
Du Lịch Nha Trang: Sài Gòn – Suối Khoáng Tháp Bà
Du Lịch Nha Trang: Sài Gòn – Suối Khoáng Tháp Bà
Giá: (mời liên hệ)
Loại: Tour 4 Ngày 3 Đêm
Du Lịch Nha Trang: HCM – Du Ngoạn 4 Đảo Nha Trang
Du Lịch Nha Trang: HCM – Du Ngoạn 4 Đảo Nha Trang
Giá: (mời liên hệ)
Loại: Tour 3 Ngày 2 Đêm
Khách sạn - Resort
Furama resort
Furama resort
Giá: (mời liên hệ)
Hạng: 5 sao
Khách sạn Hà Nội View 2
Khách sạn Hà Nội View 2
Giá: (mời liên hệ)
Hạng: 3 sao
Khách sạn Silk Path
Khách sạn Silk Path
Giá: (mời liên hệ)
Hạng: 4 sao
Khách sạn Hà Nội Eternity
Khách sạn Hà Nội Eternity
Giá: (mời liên hệ)
Hạng: 3 sao
Khách sạn Horison Ha Noi
Khách sạn Horison Ha Noi
Giá: (mời liên hệ)
Hạng: 5 sao
 


                                                                                    
Copyright © 2020 - www.hanta.org.vn - Tổng truy cập: 409475 lượt